NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP

TRANG2

1- Ngày nhàn xem truyện "Tam công",
Thương người hiền sĩ sinh không gặp đời.
Cuộc cờ thúc quư đua bơi,
Mấy thu vật đổi sao dời, than ôi !
5- Kể từ Thạch Tấn ở ngôi,
U Yên mấy quận cắt bồi Khiết Đan,
Sinh dân nào xiết bùn than,
U Yên trọn cũng giao bàn về Liêu.
Theo trong người kiệt rất nhiều,
10- Ôm tài giấu tiếng làm tiều, làm ngư.
Nước non theo thói ẩn cư,
Thờ trên nuôi dưới, nên hư mặc trời.
Lại thêm Phật, Lăo đua lời,
Nghĩ ḷng người với đạo đời thêm thương.
15- Nhà năm ba gánh cương thường,
Phận ai nấy giữ, trọn giường thời thôi.
Đời vương đời đế xa rồi,
Nay Di mai Hạ biết hồi nào an.
Năm trăm vận ở sông vàng,
20- Nước c̣n đương cáu, khôn màng thánh nhân,
Đă cam hai chữ "tỵ Tần",
Nguồn Đào t́m dấu, non xuân ruỗi miền.
Có tên rằng Mộng Thê Triền,
Tuổi vừa bốn chục, nhân duyên năm lần,
25- Nhà nghèo ở núi Bạch Vân,
Dẹp văn theo vơ, tách thân làm tiều.
Ngày ngày đốn củi rừng Nghiêu,
Hái rau non Thuấn, phận nhiều lao đao.
Đông Xuyên lại có người hào,
30- Tên rằng Tử Phược, họ Bào, làm ngư.
Trong (thông ?) minh ba chục tuổi dư,
Sinh con mười đứa bé thơ thêm nghèo.
Ngược xuôi trên nước một chèo,
Nay doi mai vịnh, nghề theo lưới chài,
35- Họ Bào họ Mộng ḥa hai,
Trước theo nghề học đều tài bậc trung.
Chẳng may gặp buổi đạo cùng,
Treo kinh dẹp sử, lánh ṿng loạn ly.
Người nam kẻ bắc phân đi,
40- Nước non rẽ bạn cố tri bấy chầy.
Cách nhau mười mấy năm nay,
T́nh cờ lại đặng một ngày gặp đây.
Ngư, Tiều mở tiệc vui vầy,
Ngâm thơ, uống rượu, đều bày chí xưa.

45- Tiều rằng : Sinh chẳng gặp thời,
Thân đà đến ấy, nghe thơ thêm phiền.
Lênh chênh chữ phận, chữ duyên,
Lỡ Tiên, lỡ Phật, lỡ nguyền nho phong.
Nhớ câu "quân tử cố cùng",
50- Đèn trăng, gió quạt, non sông phận đành.
Ngư rằng : Hai chữ công danh,
Hoàng lương nửa gối, đă đành phôi pha.
Thương câu "thế đạo đồi ba",
Ngày nay chưa biết mai ra lẽ nào !
Uống thêm vài chén rượu giao,
Ngâm thơ hoài cổ, để rao tiếng đời.

Thơ rồi Ngư mới hỏi Tiều :
Việc nhà con vợ ít nhiều đặng hay ?
Tiều rằng : Triền rất chẳng may,
60- Năm lần cưới vợ, c̣n nay một người.
Nằm hoài biếng nói, biếng cười,
Rề rề đau máu, da tươi bàu nhàu.
Bốn người trước thác theo nhau,
Người đau sản hậu, người đau thai tiền,
65- Khiến thêm nghèo khổ cho Triền,
Bán bao nhiêu củi về tiền thuốc thang,
Thầy hay thời ở xa đường,
Tin theo thầy tục, giúp phương hại người.
Ngư rằng : Phược cũng như người,
70- Hôm mai lận đận về mười đứa con.
Chí lăm nuôi đặng vuông tṛn,
Chung tư trập trập, nhà c̣n phúc ghi.
Nào hay tạo hóa tiểu nhi,
Rủ bầy con nít đều đi bỏ ḿnh.
75- Đứa thời đau chứng cấp kinh,
Đứa thời cam tích, bụng b́nh rĩnh ra,
Đứa thời hai mắt quáng gà,
Đứa thời túm miệng, khóc la rốn lồi,
Đứa thời đau bụng lăi cḥi,
80- Đứa thời iả kiết, rặn ḷi trôn trê,
Đứa thời sài ghẻ, nóng mê,
Đứa thời hoa trái, độc về hông, vai.
Rủ nhau thỉnh thoảng chết hoài,
Đứa đôi ba tháng, đứa vài ba năm.
85- Trời đà hao tốn tiền trăm,
Thương con chạy bậy, lầm nhằm thuốc nhăng.
Đến nay c̣n sót hai thằng,
Nhờ trời khoẻ mạnh, đặng ăn chơi thường.
Cảm ơn kẻ sĩ du phương,
90- Dắt ta, điềm chỉ vào đường Y lâm.
Thê Triền nghe nói mừng thầm,
Hỏi rằng : Thầy ở Y lâm tên ǵ ?
Ngư rằng: Chưa biết tên chi,
Nghe người nói đó là kỳ Nhân Sư.
95- Tiều rằng : Chữ gọi Nhân Sư,
Tiên hay là Phật, bậc ǵ công phu ?
Ngư rằng : Vốn thật thầy nhu (nho),
Ḷng cưu gấm nhiễu, lại giàu lược thao.
Nói ra vàng đá chẳng xao,
100- Văn ra dấy phụng, rời giao tưng bừng.
Trong ḿnh đủ chước kinh luân,
Thêm trau đạo đức, mười phân rơ ràng,
Chẳng may gặp thuở nước loàn,
Thương câu "dân mạc" về đàng Y lâm.
105- Ẩn ḿnh chôn ngọc, vùi câm (kim),
Người con mắt tục coi lầm biết đâu.
Ta nhân bệnh trẻ đi cầu,
Có nghe du sĩ đọc câu thơ rằng :

Tiều rằng : Mừng gặp hiền nhân,
110- Nghe bài thơ ấy, thật trân bảo đời !
Bấy lâu những tưởng không người,
Nào hay hang trống c̣n dời tiếng rân.
Thi danh trước có Đường thần.
Tài như Lư, Đỗ muôn phần khá thương.
115- Thấy nay cũng nhóm văn chương,
Vóc dê, da cọp khôn lường thực hư,
Tiếc thay đời có Nhân Sư,
Lại theo bốn chữ "vô như chi hà".
Nhớ xưa tiếng đại hiền ra,
120- " Rằng trời muốn trị, bỏ ta, ai dùng ?"
Thôi thôi ngươi hăy gắng công,
Đem ta tới chỗ, học cùng Nhân Sư.
Ngư rằng : Nhắm chốn Đan Kỳ,
Éo le khúc nẻo, đường đi chẳng gần.
125- Nhiều non, nhiều núi, nhiều rừng,
Nhiều đèo, nhiều ải, nhiều chừng động hang.
Chút công khó nhọc chẳng màng,
Phần lo hóc hiểm một đàng Nhân Khu.
Nhân Khu ải ấy ở đầu,
130- Nẻo lành, nẻo dữ, cạn sâu khôn lường.
Tiều rằng : Ta dốc t́m phương,
Xin phân cho rơ cái đường Nhân Khu.
Ngư rằng : Một ải Nhân Khu,
Lấy da bao thịt, làm bầu hồ lô.
135- Trở thông chín nẻo ra vào,
Mười hai kinh lạc chia đào dọc ngang.
Ngoài thời sáu phủ Dương Quan,
Trong thời năm tạng, xây bàn Âm Đô.
Hai bên tả hữu vách tô,
140- Có non nguyên khí, có hồ huyết quan.
Có nơi hồn phách ở an,
Có ngôi thần chủ, sửa sang việc ḿnh.
Rước đưa có đám thất t́nh,
Có vườn ngũ vị nuôi h́nh tốt tươi.
145- Lại nghe du sĩ trao lời,
Rằng trong ải ấy lắm nơi hiểm nghèo,
Có làng Lục Tặc nhóm theo,
Chia phần đón ngách, giữ đèo Tam Thi.
Hôm mai rũ quến nhau đi,
150- Xui ḷng nhân dục, nhiều khi lang loàn,
Hoặc theo bên động B́ nang,
Thắm trêu hoa mẫu mơ màng gió xuân.
Hoặc theo bên động Tôn Cân,
Nhem thèm cho săi về dân, bỏ chùa,
155- Thêm bầy quỉ quái theo lùa,
Nhóm non Thập Ác, tranh đua khuấy đời,
Ngửa xem ngoài cửa sáng giăng,
190- Thấy trên biển ngạch chữ rằng "Tam Công".
Bước vô trong miếu lạnh lùng,
Thấy treo ba bức song song họa đồ.
Nhân Sư ngồi giữa xem đồ,
Thấy ta han hỏi, dở hồ linh đan.
195- Lấy ra thuốc đỏ hai hoàn,
Cho về cứu trẻ khỏi cơn tai nàn.
Ta nhân một thuở vội vàng,
Gặp thầy chưa kịp hỏi han việc ǵ.
Tiếc thay đă đến Đan Kỳ,
200- Mùi thơm chưa dính chút chi vào ḿnh.
Tiều rằng : Xin hỏi nhân huynh,
Trước quen du sĩ, tính danh cũng tường ?
Ngư rằng : Kẻ sĩ du phương,
Tên Châu Đạo Dẫn, đem đường cho ta.
205- Đang khi bối rối việc nhà,
Nào rồi hỏi việc trải qua cùng chàng.
Chỉn nghe Đạo Dẫn thở than,
Rằng bầy Lục Tặc, biết toan lẽ nào !
Tiều rằng : Lục Tặc làm sao ?
210- Xin phân sáu ấy, âm hao cho rành,
Ngư rằng : Tai mắt nhiều tinh,
Tai tham tiếng nhạc, mắt giành sắc xinh.
Mũi thời tham vị hương hinh,
Miệng thời tham béo, ngọt, thanh, rượu, trà,
215- Vóc thời muốn bận sô sa,
Bụng thời muốn ở cửa nhà thếp son.
Cho hay Lục Tặc ấy c̣n,
Khiến con người tục lần ṃn hư thân
Tiều rằng : Nghe tiếng ngọc phân,
220- Chạnh ḷng muốn tách cơi trần chơi mây.
Phải chi gặp Đạo Dẫn đây,
Ta xin theo dấu, t́m thầy Nhân Sư.
Ngư rằng : Phược nguyện đem đi,
Anh về sắm sửa lễ nghi sẵn sàng.
225- Vả nay vừa tiết xuân quang,
Hẹn năm ngày nhóm hành trang cho rồi
Thê Triền từ tạ, chân lui,
Về nhà thấy vợ ngùi ngùi đau rên,
Nhờ ơn nhạc mẫu ở bên,
230- Dặn ḍ gửi vợ, lại lên họ Bào.
Thứ này hai họ nghĩa giao,
Sắm đồ hành lư những bao, những hồ.
Bao thời đựng cá tôm khô,
Hồ thời đựng rượu, trường đồ thẳng xông,
235- Trải qua bờ liễu, non tùng,
Trời hiu hiu thổi gió đông đưa ḿnh,
Mặt nh́n trong tiết Thanh minh,
U Yên đất cũ, cảnh t́nh trêu ngươi,
Trăm hoa nửa khóc nửa cười,
240- Như tuồng xiêu lạc gặp người cố hương.
Cỏ cây gie nhánh đón đường,
Như tuồng níu hỏi Đông hoàng ở đâu ?
Bên non đá cụm cúi đầu,
Như tuồng oan khúc, lạy cầu cứu sinh.
245- Líu lo chim nói trên cành,
Như tuồng kể mách t́nh h́nh dân đau.
Gió tre hiu hắt theo sau,
Như tuồng xúi dục đi mau t́m thầy.
Dưới non suối chảy kêu ngầy,
250- Như tuồng nhắn hỏi sự này bởi ai ?
Hai người nh́n thấy than dài,
Cho hay non nước nhiều loài trông xuân,
Mưa sầu gió thảm biết chừng nào thanh !
255- Mảng xem cảnh cũ thương t́nh,
Nào hay lạc nẻo lộ tŕnh ải xưa.
Cùng nhau ngơ ngẩn ngày trưa,
Lại may gặp bạn cỡi lừa ngâm thơ.
Hai người dừng gót đứng chờ,
260- Lắng nghe du sĩ lời thơ ngâm rằng :

Ngâm rồi thoạt thấy Tiều, Ngư,
Vội vàng Đạo Dẫn trụy lư cười ngầm.
Chào rằng : này kẻ tri âm !
Ngày nay lại đến Y lâm cầu ǵ ?
265- Ngư rằng : Đem bạn cố tri,
Đồng ḷng t́m đến Nhân Sư học hành.
Dẫn rằng : Hai chữ "phù sinh"
Người non, kẻ nước, phận đành tiều, ngư.
Bấy lâu sao chẳng tầm sư,
270- Đến nay lại có công dư học nghề ?
Tiều rằng : Thời vận bất tề,
Thêm lầm thầy thuốc làm bê việc nhà.
Ngư rằng : Ta nghĩ giận ta,
Bởi thương con vợ mới ra hết tiền.
275- Dẫn rằng : Trong cơi trần duyên,
Hay người chưa trả rồi tiền nợ vay.
Người xưa ba chuyến găy tay,
Tức ḿnh học thuốc, mới hay làm thầy,
Tiều rằng : Mấy cụm rừng y,
Đều noi đường cái Hiên Kỳ trổ ra.
285- Một ngày suối chảy một xa
Rốt ḍng lại có chính tà khác nhau.
Ngư rằng : Cách trở bấy lâu,
Đường đi ngày trước lạc đâu khôn tầm.
Dẫn rằng : Đây thật Y lâm,
290- Nhân khu ải khỏi, nào lầm chớ e !
Ngư rằng : Dặm cũ vắng hoe,
Ḿnh tuy có thấy, không nghe biết ǵ.
Dẫn rằng : Đó chớ vội đi,
Ngày nay chưa gặp Tôn Sư ở nhà .
295- Đến am Bảo Dưỡng theo ta,
Nghỉ chơi vài bữa, rồi qua Đan Kỳ.
Ngư, Tiều theo Đạo Dẫn đi,
Ở am Bảo Dưỡng một khi vui vầy.
Ba người kết bạn đông tây,
300- Chuyện tṛ sách thuốc, lối này hỏi nhau.
Ngư rằng : Trước ải Nhân Khu,
Mười hai kinh lạc, cạn sâu chưa tường,
Dẫn rằng : Ba âm, ba dương,
Ba ba số bội, chia đường hai bên,
305- Tay chân tả hữu hai bên,
Âm dương đều sáu, dưới trên buộc ràng.

Ngư rằng : Kinh lạc là tiêu,
Chỗ nào khí huyết ít nhiều biết đâu.
Dẫn rằng : Khí huyết nhân khu,
310- Ta từng coi sách, thấy câu ca rằng :

Ngư rằng : Kinh lạc nhiều đàng,
Người đau nhiều chứng, biết toan lẽ nào ?
Dẫn rằng : Chớ hỏi thầy cao,
bệnh nào thuốc nấy đem vào đường kinh.
315- Tiều rằng : Xin hỏi tiên sinh,
lệ trong năm tạng, ghi h́nh trạng sao ?
Dẫn rằng : Tổ có lời rao :
Tạng can thuộc mộc, cây rào mùa xuân.
Sắc xanh, con mắt là chừng,
320- Hoa ra giáp móng, dày gân buộc lèo.
Giấu hồn, đựng máu, tiếng kêu,
Vị toan, nước mắt, mạch nêu chữ Huyền.
Quyết âm kinh túc ấy truyền,
Hợp cùng phủ đảm, ngôi liền ngoài trong.
325- Tạng tâm thuộc hoả, mạch Hồng,
Mùa hè, sắc đỏ, chừng trong lưỡi này.
Giấu thần, nuôi máu, ở đây,
Đắng mùi, tiếng nói, nước vầy buồn hôi.
Thiếu âm kinh thủ phải rồi,
330- Hợp cùng ngoại phủ, rằng ngôi tiểu trường.
Tạng tỳ thuộc thổ sắc vàng,
Vượng theo tứ quư, đều tàng ư vui.
Miệng chừng, nước dăi, ngọt mùi,
Tiếng ca, mạch Hoăn, hay nuôi thịt h́nh.
335- Thái âm kinh túc đă đành,
Hợp cùng phủ vị, ngôi giành trung châu.
Tạng phế thuộc kim, mạch Phù,
Vị cay, sắc trắng, mùa thu, phách ṛng.
Giấu hơi, nuôi khắp da, lông,
340- Mùi chừng, tiếng khóc, nước trong mũi thường.
Thái âm kinh thủ cho tường,
Hợp cùng ngoại phủ đại trường ấy thông .
Tạng thận thuộc thủy, mùa đông,
Sắc đen vị mặn, chi dùng nuôi xương,
345- Tiếng rên, nước nhỏ hôi ươn,
Hai tai chừng đó, giữ phương mạch Trầm.
Phần về kinh Túc Thiếu âm,
Hợp bàng quang phủ, ǵn cầm hóa nguyên.
Tiều rằng : Nam tạng đă biên,
350- Ḱa như sáu phủ, xin liền nói ra.
Dẫn rằng : Cái mật người ta,
Tượng theo xuân mộc, kinh là thiếu dương.
Đảm ngoài làm phủ cho can,
Tóm vào muôn mối, việc toan lo lường.
355- Mấy chiều ruột nhỏ tiểu trường,
Tượng theo hạ hỏa, thái dương kinh cầm.
Ở ngoài làm phủ cho tâm,
Nước trôi đem xuống đặng dầm nguồn sinh.
Vị là kinh Túc Dương minh,
360- Đựng theo đất chứa, việc ḿnh uống ăn,
Bao nhiêu nước, xác chứa ngăn,
Phát ra các chỗ, chịu bằng quan ty.
Ở ngoài làm phủ cho tỳ,
Cái bao tử ấy thật ghi công dày.
365- Đại trường ruột lớn liền đây,
Dương minh kinh thủ, tượng vầy thu câm (kim).
Ngôi theo nhờ phế hơi cầm,
Vật ăn bă xác xuống hầm phẩn ra,
Bàng quang thật bọng đái ta,
370- Tượng theo đông thủy, kinh là thái dương.
Ngôi theo ngoài chốn thận hương,
Hóa hơi nước xuống, làm đường niệu tân.
Tam tiêu phủ ấy ba tầng,
Kiêm trên, giữa, dưới, gọi rằng tam tiêu.
375- Trên thâu ăn uống, nạp nhiều,
Giữa chia trong đục, dưới điều gạn ra.
Làm đường nước xác trải qua,
Nhờ ba hơi ấy tiêu ḥa máu, hơi.
Trước sau bủa khắp ba hơi,
380- Thiếu dương kinh thủ thật nơi dinh người.
Tiều rằng : Kinh lạc mười hai,
Tạng phủ mười một biết hài thế sao ?
Dẫn rằng : Trước có lời rao :
Quyết âm kinh thủ, tâm bào lạc nêu.
385- Tâm bào cùng phủ tam tiêu,
Trong ngoài hai ấy chia đều âm, dương.
Muốn làm thầy đặng chữ "lương",
Bệnh trong tạng phủ phải lường thực hư.
Rồi đây hỏi lại Nhân Sư,
390- Xin phân chứng thực, chứng hư cho rành.
Ngư rằng : Ḱa bến Ngũ Hành,
Chia ra nẻo khắc, nẻo sinh làm ǵ ?

Dẫn rằng : Trên, dưới hai nghi,
Có năm hành ấy, hoa ky (cơ) xây vần.
395- Mộc, kim, thủy, hỏa, thổ phân,
Sinh : phần ấy tốt, khắc : phần ấy hư.
Muốn cho rơ lẽ nên hư,
Coi lời sinh khắc tổ sư ca rằng :